Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

Một số biện pháp hỗ trợ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo tài liệu CGD.

1. Làm tốt công tác tư tưởng cho GV lớp 1.
Như đã trình bày ở trên, tất cả GV khi thực hiện chương trình CGD đều mang một tâm trạng lo lắng. Xuất phát từ sự chưa hiểu về quan điểm dạy học CGD, từ khả năng tiếp cận và thay đổi thói quen của bản thân và một phần chưa thực sự tin tưởng vào tính ưu việt của bộ tài liệu này. Vì vậy, nếu không làm tốt công tác tư tưởng cho GV thì rất có thể việc thực hiện dạy học theo tài liệu CGD sẽ không triệt để dẫn tới thất bại.
 Để khắc phục tình trạng trên, ngay từ đầu BGH cần có kế hoạch để làm tốt công tác tư tưởng cho GV lớp 1, giúp họ hiểu và hiểu rõ về chương trình, về quan điểm dạy học và PP dạy học, giúp họ tự tin trước khi thực hiện. Một số biện pháp để làm công tác tư tưởng cho GV có thể áp dụng:
- Giải đáp một cách thuyết phục những băn khoăn vướng mắc của GV về những vấn đề liên quan đến dạy học TV1 CGD.
- Đưa ra những minh chứng cho thấy đây là bộ tài liệu đã đươc áp dụng thành công ở nhiều nơi với những kết quả và phương pháp giáo dục tiến bộ.
- Khẳng định về khả năng cũng như năng lực thực hiện dạy học TV1 CGD của GV. Giúp họ tự tin và thấy rằng, nếu cố gắng học hỏi, mình có thể làm tốt.
- Không tạo áp lực cho Gv, không giao phó hoàn toàn cho họ. Cần giúp họ thấy rằng bên cạnh họ luôn có người đồng hành, cùng học, cùng làm, sẵn sàng chia sẻ với họ những vấn đề mà họ mắc phải và tự tin là sẽ khắc phục được.   
 
2. Nắm vững và hỗ trợ kịp thời về nội dung chương trình, qui trình và phương pháp dạy học .
Để có thể thực hiện việc hỗ trợ, trước hết bản thân người làm quản lí phải chịu khó học tập, nghiên cứu để nắm vững những vấn đề cơ bản của dạy học TV1 CGD. Khác với dạy học thông thường, bản chất của CGD là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một qui trình kĩ thuật được xử lí bằng giải pháp nghiệp vụ. Nó đòi hỏi mỗi Gv lên lớp không chỉ hiểu và nắm vững qui trình dạy học mà còn phải xử lí quá trình dạy học bằng những giải pháp nghiệp vụ “nhà nghề”. Thứ mà như GS Hồ Ngọc Đại đã nói là “chỉ có người có nghề mới làm được”. Tiêu chí nhà nghề đó theo tôi, phải được thể hiện qua 2 mặt trong dạy học, đó là am hiểu về nội dung và thuần thục trong phương pháp.
a. Về nội dung.
 chương trình TV1 CGD được thiết kế với 4 bài cụ thể: Tiếng; Âm; Vần; Nguyên âm đôi.
Với bài đầu tiên “Tiếng” học sinh lần đầu tiên biết được  và biết cụ thể, tường minh dưới dạng một khái niệm khoa học “ tiếng là một khối âm toàn vẹn được tách ra từ chuỗi lời nói” thông qua các thao tác như tách lời nói thành từng tiếng rời; mô hình hóa dưới dạng các vật thay thế….
VD: Lời nói: “Tháp muười đẹp nhất bông sen” được tách ra thành các tiếng rời. Mỗi lần phát âm chỉ được một tiếng, thay mỗi tiếng bằng một mô hình để HS biết rằng mỗi tiếng là một khối nguyên và được tách ra từ trong lời nói.
Với bài Âm, cũng ngay từ đầu, rất rõ ràng học sinh được học cách lấy các âm từ trong  tiếng với các thao tác phân tích tiếng thành các đơn vị ngữ âm nhỏ nhất là âm vị (Ba- b- a - ba). Ở đây, học sinh lại được tiếp tục rút ra các khái niệm khoa học từ các thao tác như phát âm, phân tích bằng tay, bằng miệng, nhận xét luồng hơi khi phát âm để nhận ra đâu là nguyên âm, đâu là phụ âm. Đồng thời hiểu một cách cụ thể vì sao nó là nguyên âm và vì sao nó lại là phụ âm. Sau đó học cách ghi lại các âm đó bằng các kí hiệu (bờ-b, nờ- n…). Như vậy, CGD đưa học sinh đi từ âm đến chữ( Khác với trước đây chương trình hiện hành dạy học từ chữ đến âm).
Đến bài “ Vần”, CGD không cung cấp mà giúp học sinh tạo ra các vần mới dựa trên các âm đã học một cách có hệ thống với 4 kiểu vần: Vần chỉ có âm chính; Vần có âm chính và âm cuối, Vần có âm đệm và âm chính và cuối cùng là vần có đủ âm đệm, âm chính, âm cuối. 4 kiểu vần có mối liên hệ chặt chẽ, logic có thể thấy rõ trong quá trình tạo ra các kiểu vần mới.
VD:Từ mẫu “Ba” học sinh được học cách mô hình hóa để nhận ra: Vần chỉ có âm chính, kiểu vần 1.
-  Từ kiểu vần 1: Vần chỉ có âm chính. thêm âm đệm( bằng thao tác làm tròn môi các nguyên âm không tròn môi) ta có kiểu vần 2: Vần có âm đệm và âm chính.

- Từ kiểu vần 1: vần chỉ có âm chính: Thêm âm cuối ta có kiểu vần 3: Vần có âm chính và âm cuối.
- Từ 2 kiểu vần 2 và 3, học sinh có 2 cách để tạo ra kiểu vần 4.
+ Cách thứ nhất: Làm tròn môi vần có âm chính và âm cuối để tạo thành vần mới: VD: Làm tròn môi vần an để có vần oan : an - o-an oan bằng cách thêm âm đệm o vào trước vần an. Đánh vần: o-an-oan
+ Cách thứ 2: thêm âm cuối vào vần có âm đệm và âm chính để tạo thành vần mới. VD: oa-n-oan. Thêm âm n vào sau vần oa. Đánh vần: oa-nờ-oan.
Song song với việc học các vần mới theo 4 kiểu vần đã học học sinh cũng đồng thời học cách tạo ra các tiếng mới làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ của mình qua 2 thao tác: thêm âm đầu và thêm thanh hoặc thay âm đầu và thêm thanh.
Bài nguyên âm đôi là bài học sau cùng trong chuỗi kiến thức ngữ âm TV trong chương trình TV1 CGD. Bằng phát âm học sinh nhận ra được nguyên âm đôi; bằng luật chính tả học sinh biết cách ghi nguyên âm đôi. Đến đây học sinh đã có thể xử lí mối quan hệ âm-chữ một cách tinh tế, chuẩn xác nhất với việc 1 âm được ghi bởi 2 - 4 con chữ. Như vậy, có thể thấy các bài học trong chương trình TV1 CGD được sắp xếp theo một trật tự tuyến tính, lo gic và khoa học thể hiện nguyên tắc phát triển trong xây dựng chương trình.
Xen lẫn trong 4 bài là hệ thống các qui tắc chính tả( luật chính tả ) được cung cấp và củng cố thường xuyên, gặp đâu dạy đấy; gặp đâu, nhắc đấy như là một thói quen của dạy học TV1 CGD.Tất cả làm nên một chương trình CGD với hệ thống kiến thức về cấu trúc ngữ âm hoàn chỉnh và hết sức tường minh mà bất cứ một GV tiểu học nào cũng cần phải nắm rõ, đặc biệt là CBQL và GV dạy lớp 1. Việc nắm chắc kiến thức, nội dung và đặc biệt là quan điểm dạy học theo tài liệu CGD giúp cho người quản lí bất cứ lúc nào cũng có thể kiểm tra, góp ý và điều chỉnh quá trình dạy học của GV nhằm hướng tới một các đích duy nhất: Kết quả.
b. Về phương pháp.
Phương pháp dạy học theo thiết kế của GSTSKH Hồ Ngọc Đại là một hệ thống các việc làm được thiết kế cho từng bài, từng mẫu. Theo lí thuyết của ông thì Việc làm là đơn vị tổ chức cơ bản, có giá trị lí thuyết và thực tiễn quan trọng nhất của nghiệp vụ sư phạm hiện đại, với nguyên tắc vàng là học sinh tự làm ra sản phẩm GD cho chính mình, nguyên tắc vàng là không đưa đến cho học sinh sản phẩm làm sẵn
Việc làm trong thực tiễn sư phạm là một quá trình diễn ra tuyến tính trong thời gian một chiều, quá trình thiết kế theo một chuỗi thao tác.
Thao tác là đơn vị nhỏ nhất, được tổ chức tuyến tính theo một trật tự nghiêm ngặt.( Nếu thay đổi trật tự sẽ là một kết quả tồi).
Hệ thống việc làm và các thao tác trong dạy học TV1 CGD được thiết kế cho từng mẫu, từng bài cụ thể. Nếu nội dung được thiết kế theo 4 bài thì phương pháp dạy học được chia thành 5 mẫu tương ứng.
Mẫu 0: Dành riêng để dạy các tiết chuẩn bị để HS làm quen.
Các bài trong mẫu 0 được thiết kế với hệ thống 3 việc làm . Tuy nhiên các thao tác trong mỗi việc làm ở mẫu 0 thường không giống nhau mà linh hoạt  theo từng nội dung cụ thể.
Mẫu 1: Tiếng
Mẫu 2: Âm
Mẫu 3: Vần
Mẫu 4: Nguyên âm đôi
Mẫu 5: Luyện tập tổng hợp.
 Ngoài mẫu 0, các mẫu còn lại đều được thiết kế theo qui trình 4 việc. Trong mỗi việc bao gồm các thao tac nhỏ. Các thao tác này không hoàn toàn giống nhau trong từng bài. Vì vậy GV cần đọc kĩ để hiểu rõ vì sao lại phải tuân thủ theo trật tự việc làm cũng như các thao tác dã được thiết kế. Cần phải hiểu rằng qui trình công nghệ nếu tùy tiện có thể thay đổi được thì nó không còn là qui trình công nghệ nữa. Vậy làm thế nào để GV có thể làm tốt được?
 Qua nghiên cứu tài liệu và thực tế dạy học trên lớp của GV, để giúp GV dễ hiểu hơn thì việc dạy học  toàn bộ chương trình TV1 theo tài liệu CGD có thể khái quát thành một hệ thống gồm 16 việc làm như 16 bước tiến như sau:
Việc 1.  Việc 1 là cơ hội đầu tiên thầy giáo tổ chức cho học sinh gặp gỡ vói đối tượng lĩnh hội, đối tượng mà từ đây các em sẽ khai thác từ nó những vấn đề về ngữ âm TV. Đó là “Tiếng” với vật liệu để tiếp cận là 2 câu thơ về Bác Hồ:
Tháp mười đẹp nhất bông sen
Việt nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Nghiệp vụ sư phạm trong CGD dùng cả 4 “ cỡ” âm thanh mà ta quen gọi là “ To- Nhỏ- Nhẩm –Thầm” để kiểm soát quá trình đọc của các em. Trong việc 1 HS được 2 điều: Được cung cấp vật liệu để làm việc ở hình thái âm thanh và được huấn luyện cách ghi nhớ với thao tác T-N-N-T.
Rõ ràng ở đây ngay từ việc 1 không có hiện tượng thầy giảng giải- trò ngồi nghe mà thầy chỉ cung cấp vật liệu; thầy làm mẫu- trò làm theo. Thế thôi.
Việc 2: Việc 2 làm lại việc 1 trên một hình thái khác của đối tượng, bởi trên hình thái âm thanh thì các vật liệu sau khi nói ra nó sẽ tan ngay, HS không kịp thao tác và khó nhận diện nó. Do vậy, nghiệp vụ SP hiện đại tìm cho nó một vật thay thế bằng một đồ vật ba chiều( một khối nhựa, một cái khuy…). Thầy lại giao việc và chỉ làm mẫu: Mỗi một tiếng nói ra thì tay lấy 1 khối nhựa đưa lên rồi đặt xuống bàn, xong lại chỉ vào khối nhựa đọc lại.
Bước 2 trong việc 2 là giúp HS tiếp tục thay thế các quân nhựa bằng các hình vẽ 2 chiều( H.vuông, HCN..) rồi đọc lại.
Như vậy 3 thao tác trong việc 2: Nói- dùng vật thay thế- nói lại sau này sẽ là ba thao tác viết chính tả: Nghe rõ- viết đúng- đọc lại.
Việc 3: Việc 3 với vật liệu cũ, cách làm cũ nhưng thêm một lưu ý mới “tiếng đọc giống nhau thì thay bởi vật giống nhau” từ đó HS có thêm chất liệu mới đầu tiên hay nói là kiến thức TV đầu tiên đó chính là: Có tiếng giống nhau, có tiếng khác nhau.
Việc 4: Việc 4 phát hiện ra nét đặc trưng của Tiếng Tiếng việt: Tv có 6 thanh( chất liệu mới) HS có thêm chất liệu mới này HS sẽ hiểu biết  cụ thể hơn. Một bước phát triển mới.
Tiếng có 6 thanh là nét đặc trưng độc đáo của Tiếng Việt. Lấy thanh ngang làm cữ, HS nhận ra 5 thanh còn lại: Huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.
Việc 5: Việc 5 lấy tiếng thanh ngang để phân giải tiếng ra 2 phần: Phần đầu, phần vần qua các thao tác phân tích, mô hình hóa. Dùng mô hình để cố định sản phẩm:VD:  sen: phần đầu s phần vần en
Việc 6. Việc 6 Dùng các sản phẩm đã có cho mục đích mới-  học cách đánh vần.
Việc 7. Việc 7 tổng kết một chặng đường đi để HS hiểu được cụ thể hơn về đối tượng lĩnh hội đầu tiên: Tiếng. Phát hiện ra 3 phần của tiếng: Phần đầu, phần vần, phần thanh.
Đến đây học sinh hoàn thành bài Tiếng để chuyển sang bài Âm.
Việc 8. Việc 8 HS thực hiện phân giải tiếng đến từng âm vị qua các thao tác: phát âm, phân tích tiếng Ba để có âm vị a,bờ. Bằng cảm nhận luồng hơi đi ra khi phát âm a, bờ HS biết về Nguyên âm, phụ âm.
Việc 9: Dùng chữ thay âm.
Qua việc 9, nghiệp vụ sư phạm giúp cho HS tìm hiểu mối quan hệ vật thật- vật thay thế bằng cách phát âm và viết chữ. Việc 9 làm ra vật thay thế cho Âm đó chính là Chữ viết.
Việc 10: Đưa luật chính tả vào dạy ngay khi gặp lần đầu tiên..
Việc 11: Xác định các nguyên âm và phụ âm trong Tv, Phân loại các nguyên âm tròn môi hay không tròn môi chuẩn bị cho học vần mới với việc 12.
Việc 12. Làm tròn môi các nguyên âm không tròn môi, tạo ra vần với tên gọi âm đệm, âm chính
Việc 13: Cung cấp luật chính tả về âm đệm, luật chính tả dấu thanh.
Việc 14. Xác định vần có âm cuối với sự xuất hiện của 2 âm chính ă, â. Mẫu an, oan.
Việc 15: Xác lập lại mối quan hệ giữa 4 mẫu. Lấy mẫu 1 làm căn cứ sản phẩm của việc 15 là cấu trúc ngữ âm của tiếng, của bất cứ tiếng nào từ tiếng có 1 thành phần( âm chính) đến tiếng có đủ 4 thành phần.
Công nghệ học thiết kế quá trình với 15 việc( 15 công đoạn lớn) làm ra các sản phẩm tất yếu, cân đong đo đếm được. Đi bước nào chắc bước đấy, đi đến đâu, chắc đến đấy.
Việc 16. Việc cuối cùng với bài 4. Mẫu nguyên âm đôi. Làm mẫu với âm chính , tạo các vần mới từ âm chính , học luật chính tả với 4 cách viết âm đôi iê.
Như vậy có thể nói bản tuyên ngôn 16 việc làm là toàn bộ những gì mà HS lớp 1 cần hoàn thành trong năm học. Hoàn thành một việc là bước thêm được một bước trong chặng đường đầu tiên của con đường học tập. Giúp GV hiểu được 16 bước ngoặt ấy trong tiến trình dạy học là việc chuẩn bị của chúng ta đã cơ bản đầy đủ, và đã có thể tự tin để bước đi. Dẫu vậy trong chặng đường sắp đi ấy HS có thể sẽ gặp khó khăn gì và BGH cần làm gì để GV có thể cùng HS khắc phục khó khăn?
Một số những lưu ý:
Hai tuần đầu: Khó khăn mà học sinh gặp phải đó là phải thay đổi và làm quen với môi trường học tập mới, khác hẳn với giai đoạn trước, khi còn học ở trường Mầm non. Do vậy duy trì hoạt động học trong một khoảng thời gian dài là khó khăn đầu tiên của HS. Bên cạnh đó CGD còn bắt buộc HS làm quen với một loạt các qui định mới chuẩn bị cho việc học một cách bài bản. Học cách ngồi, cách nhận lệnh, cách sử dụng ĐDHT.. giai đoạn này nếu GV làm việc không khoa học thì rất khó có thể tập cho HS được thói quen cần thiết phục vụ cho các HĐ học sau này.Vì vậy BGH cần lưu ý GV phải nhất quán trong việc sử dụng các kí hiệu, tín hiệu và trong qui định cách thức làm việc với học sinh. Cần gương mẫu thực hiện các qui định đó trong suốt quá trình lên lớp. Nếu được thì nên thống nhất trong toàn trường để dễ dàng khi dạy thay. Cũng cần phải lưu ý GV tận dụng thời gian này để giúp HS chuyển dần từ HĐ chơi sang hoạt động học với việc tổ chức các trò chơi. Tổ chức tốt các trò chơi không chỉ giúp HS thư giãn, thay đổi trạng thái, tạo hứng thú mà còn có tác dụng rèn một số các kĩ năng cơ bản cần thiết cho việc học về sau.
Bài Âm: Cần thuần thục 4 việc và 5 thao tác. 4 việc gồm : Chiếm lĩnh ngữ âm, viết, đọc, viết chính tả, và 5 thao tác gồm: Nghe rõ; nói rõ; phân tích tiếng, vần, âm; lập mô hình và vận dụng mô hình.
Trong bài ÂM cơ bản về kiến thức không khó nhưng do học sinh chưa được làm quen với chữ cái như trước đây nên trong một khoảng thời gian ngắn với tần suất xuất hiện của tất cả các âm một cách liên tục trong 6 tuần liền nên học sinh không nhớ kịp. Do vậy, điều cần lưu ý khi dạy mẫu này là phải lưu ý làm tốt việc 0 để củng cố các âm đã học. Không chỉ củng cố, nhắc lại một âm kề trước mà phải nhắc lại tất cả các âm đã học trước đó theo một thứ tự nhất định. Sau mỗi bài Gv cần bổ sung và lưu giữ trên bảng các âm đã học theo thứ tự bảng chữ cái. Phần này cũng cần vận dụng tối đa bộ thiết bị dạy học TV1 bao gồm bộ chữ rời, bảng .. trong các hoạt động tiếp nối hoặc trong dạy học buổi 2. Cần tổ chức thêm nhiều các hoạt động trò chơi để giúp HS tái hiện và ghi nhớ các âm tiếng Việt dưới dạng các chữ ghi âm.
Bài Vần: Đây là bài dài và khó không chỉ đối với HS mà còn khó đối với cả GV. Phần này vận dụng nhiều về kiến thức ngữ âm trong việc nhận diện, xác định âm đệm, âm chính, âm cuối. Yêu cầu chính xác khi đưa vào mô hình và phân tích cấu tạo của vần. Đến đây, hạn chế thấy rõ là học sinh đọc chậm và vấn đề này tồn tại khá lâu trong quá trình dạy TV1 năm nay. Vậy nguyên nhân là do đâu? Rất dễ hiểu. Mỗi ngày học sinh học từ 2 đến 6 vần mới. Nhớ được vần đã khó, lại thêm rất nhiều tiếng mới được tạo thành từ mỗi vần khiến học sinh phải hoàn thành một lượng công việc quá nhiều, do đó khó có thể nhớ kịp. Cứ như vậy liên tục trong nhiều tuần dẫn đến việc học sinh đọc chậm. Bên cạnh đó, việc Gv chỉ được đơn thuần dùng chữ viết thường khi viết bảng cũng gây khó khăn không nhỏ cho HS khi chuyển sang đọc sách giáo khoa. Do vậy để khắc phục vấn đề học sinh đọc chậm BGH cần quán triệt và hướng dẫn GV làm tốt những việc sau.
Thứ nhất: Chú trọng dạy cách đánh vần cho học sinh.
Để đọc được, HS buộc phải đánh vần. Quá trình đó diễn ra nhanh hay chậm là phụ thuộc vào khả năng của từng em. Nhưng để đảm bảo chắc chắn mỗi em đều đọc được thì cần dạy kĩ cách đánh vần. CGD chú trọng vào thao tác phân tích mà không nói nhiều đến cách đánh vần, do đó hầu hết GV khi lên lớp chỉ nhất nhất theo qui trình mà không biết điểm nhấn, nên khi phân tích thì học sinh làm được (do đã nghe bạn làm, cô làm trước đó). Thế nhưng, cũng tiếng đó lát sau quay lại hỏi thì HS không đọc được, và dĩ nhiên, trong quá trình phân tích thì thao tác đầu tiên là đọc trơn, nếu không đọc trơn được thì cũng không phân tích được. Vậy cần dạy đánh vần như thế nào và vào lúc nào trong qui trình CGD?
VD: Khi dạy vần iên chẳng hạn. Sau khi phát âm vần iên, bằng thao tác phân tích giúp học sinh nhận ra vần iên có 2 âm, âm chính và âm cuối n. Ngay lúc đó GV cần hướng dẫn cách đánh vần: ia- nờ – iên, lưu ý cách đánh vần trong công nghệ GD phải đánh vần theo âm, không đánh vần theo chữ. Trước đây vần iên đánh vần là i-ê-n-iên, còn CGD thì phải đánh vần là /ia/- /nờ/- /iên/ . Cần cho lệnh rõ ràng: Đánh vần vần iên: HS  /ia/nờ/iên/, nối tiếp đánh vần cá nhân- nhóm- tổ..để khắc sâu cách tạo ra vần mới từ 2 âm  iê và n đã học. Bước tiếp theo mới đưa vần vào mô hình, chỉ trên mô hình và đọc. Nhấn mạnh cách đánh vần là cơ sở để HS đọc, do vậy  tôi luôn nhắc GV không nên chỉ chú trọng đến phân tích mà làm mờ nhạt  phần đánh vần. ( Thực tế nhiều em khi được yêu cầu đánh vần thì đều phân tích, những em không đánh vần được thì cũng không phân tích được). Bản thân HS cũng cần được GV nói rõ làm như thế nào là phân tích, làm như thế nào là đánh vần để các em thực hiện khi có yêu cầu.
Thứ hai: Cần lưu ý việc viết bảng của GV.
Nếu lớp học có nhiều HS yếu thì không nên quá máy móc trong việc sử dụng chữ in thường hay viết thường lên bảng lớp. Để thuận lợi hơn cho HS GV có thể  sử dụng chữ in thường khi viết các tiếng khó để HS luyện đọc. Ngoài ra, quan trọng hơn GV cần phải biết lựa chọn để đưa lên bảng các tiếng mới dễ hiểu, thông dụng trong số các tiếng học sinh nêu ra. Với bài có vần khó và nhiều vần thì chỉ nên chọn những tiếng có nghĩa, thường hay sử dụng để ghi bảng.( Mỗi bài GV cần phải nghĩ xem nên viết tiếng nào, từ nào).  Đặc biệt nếu  dạy cặp vần thì có thể chọn ghi một số cặp tiếng chứa các vần vừa học để ghi lên bảng: VD: on-ot, ôn-ôt; ơn - ơt nếu ghi tiếng cho từng vần thì sẽ rất nhiều, do đó có thể cho HS viết vào bảng con, đọc các tiếng mới sau đó nâng cao yêu cầu để tìm cặp tiếng chứa cặp vần mới học  để ghi bảng. Trong trường hợp 3 cặp vần trên có thể chỉ ghi  3 từ: chon chót, tôn tốt, xơn xớt ….sau đó cho HS luyện đọc lại, nếu còn thời gian có thể cho HS tìm thêm.
Thứ ba. Cần tăng cường luyện đọc theo 4 mức độ, vận dụng có hiệu quả thao tác đọc thầm.
3. Vào cuộc ngay từ đầu và luôn đồng hành cùng với GV.
Để có được sự hỗ trợ kịp thời thì ngay từ đầu, khi triển khai chương trình TV1 CGD BGh cần có sự phân công cụ thể người phụ trách, thực sự vào cuộc cùng với giáo viên. Bắt đầu từ việc họp phụ huynh, tuyền truyền để cho PH hiểu, tin tưởng vào phương pháp dạy học mới cho đến việc dạy học các bài,các mẫu sau này. Trong đó việc theo sát, hướng dẫn chi tiết, cụ thể việc dạy học tuần 0 là yếu tố cơ bản ban đầu cho việc thực hiện dạy học về sau. Đối với các trường có nhiều lớp 1 BGH cần theo dõi để rút kinh nghiệm giảng dạy cho lớp này thông qua các lỗi của lớp kia và ngược lại những sáng tạo của lớp này có thể trao đổi cho lớp khác trên tinh thần phù hợp với đối tượng học sinh và năng lực của GV.
Qua mỗi bài, mỗi mẫu BGH cần có sự kiểm tra, so sánh để tìm ra những lỗi mà học sinh và GV mắc phải trong quá trình thực hiện. Trong trường hợp có những vấn đề bất cập nảy sinh, những vấp váp trong thực hiện hoặc hiệu quả chưa đạt như mong muốn thì BGH phải là người cùng GV tìm biện pháp tháo gỡ. Không phó thác hoàn toàn cho Gv, không chỉ biết kiểm tra, đánh giá mà nếu cần phải bắt tay vào làm cùng GV, phải tư vấn kịp thời để GV có thể tự tin dạy học và ngày một thạo nghề.
4. Thường xuyên thăm lớp dự giờ, góp ý rút kinh nghiệm dạy học.
Giúp đỡ, chia sẻ không thể thực hiện được nếu không thường xuyên thực hiện dự giờ thăm lớp. Những ngày đầu, tháng đầu việc dự giờ của BGH đối với dạy học CGD cần phải làm mỗi ngày. Hôm nay người này, mai người kia hoặc mỗi người 1 việc. Dự giờ CGD cần tập trung vào những vấn đề sau:
- Thao tác và ngôn ngữ của GV
CGD đòi hỏi sự ngắn gọn, chính xác một cách khoa học. Do vậy, ngay từ đầu GV cần tập một thói quen làm việc khoa học, nề nếp để tạo thói quen cho HS. Các tín hiệu, kí hiệu đưa ra cần rõ ràng, dứt khoát và nhất quán. Lời nói, lệnh phải đủ to, rõ và dễ hiểu. Tuyệt đối không lệnh nhiều lần cho một yêu cầu, không nhắc lại nội dung giao việc để tập thói quen tập trung chú ý cho học sinh. Nhận xét nhắc nhở phải nhẹ nhàng, chú trọng nhận xét cá nhân.
- Việc thực hiện qui trình dạy học theo thiết kế
Qui trình trong dạy học TV CGD là một qui trình cứng. Vì vậy nó có cảm giác là Công nghệ học quá cứng nhắc, tuy nhiên cuối cùng. may là nó cứng nhắc một cách tuyệt vời, vì đó là con đường ngắn nhất, an toàn nhất dẫn đến mục đích. Do vậy đã chấp nhận đi theo con đường của Công nghệ học thì cũng có nghĩa là chấp nhận tuân thủ qui trình dạy học đã được thiết kế sẵn với qui trình 4 việc và hệ thống các thao tác được sắp xếp logic, khoa học. Nó đòi hỏi sản phẩm của từng quá trình, từng việc riêng biệt. Sản phẩm của việc này, công đoạn này là nguyên liệu cần thiết cho việc làm sau. Do vậy dạy học theo qui trình, đảm bảo cho ra sản phẩm của công đoạn này mới tiếp tục bắt tay vào việc khác là yêu cầu mà mỗi GV phải tuân thủ. Làm đến đâu, chắc đến đấy. Không có khái niệm sau này dạy lại, làm lại mà phải đảm bảo chính xác từ đầu. Giai đoạn đầu là giai đoạn mà GV chưa nhớ qui trình, đang lẫn lộn giữa CGD với hiện hành thì việc dự giờ, giúp GV điều chỉnh để tuân thủ các bước là hết sức cần thiết. Nếu GV dạy sai qui trình hoặc bỏ qua thao tác cần hướng dẫn GV thực hiện lại.
- Khả năng điều hành và tổ chức lớp học theo qui trình CGD.
Cùng với việc dạy học theo qui trình thì việc định hướng giúp GV điều chỉnh để tạo nên một sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa GV và HS trong suốt tiến trình thực hiện  là một yếu tố quyết định hiệu quả giờ học. Để đảm bảo sự kết hợp tốt GV cần có khả năng quan sát tốt. Mỗi một lệnh đưa ra cần đảm bảo là tất cả HS trong lớp đều có thể nghe và thực hiện. Nếu HS chưa có sự tập trung, Gv chưa nên giao việc mà cần phải có sự ổn định trước bằng những thao tác phụ. Mỗi một lệnh Gv cần dành thời gian vừa đủ để đa số HS thực hiện xong. Đảm bảo HS làm việc đồng loạt, cùng thực hiện một nhiệm vụ, trong cùng một khoảng thời gian mà GV cho phép, tránh tình trạng GV lệnh nhưng HS chưa làm ngay, hoặc lệnh này  HS chưa làm xong GV đã ra nhiệm vụ mới. Không tập thói quen rề rà mà phải nhanh gọn, dứt khoát trong từng thao tác nhỏ. VD: Với thao tác vẽ mô hình: Sau khi chấm điểm tọa độ HS chỉ việc nối các điểm tọa độ với nhau theo qui trình với chỉ một lần nhấc bút. Không tô đi tô lại, cố gắng vẽ thẳng, nếu chưa thẳng nhắc HS điều chỉnh lần sau, không sửa đi sửa lại, vẽ đi vẽ lại mất thời gian. Viết chữ cùng vậy. Không tạo cho HS thói quen xóa đi xóa lại để sửa từng nét nhỏ, mà hướng dẫn HS xác định các điểm tọa độ để định hướng trước khi viết. Nếu chưa đẹp thì điều chỉnh ở lần viết sau. Với các bài ở mẫu 0 cần thiết có thể tăng cường thêm thời lượng và nên để GV dạy thay tham gia cùng GVCN để làm quen, đồng thời giúp HS làm quen với các thao tác của HĐ học tập mới.
Mức độ, khả năng tiếp nhận của HS đối với lệnh của Gv và nội dung bài học của mối học sinh cũng có thể khác nhau. Vì vậy yêu cầu đối với mỗi thao tác, với mỗi học sinh cần phải được GV cân nhắc để đảm bảo tính vừa sức, phù hợp. VD: Cùng là viết chữ ghi âm m nhưng có thể có em viết 3 lần nhưng với HS yếu chỉ cần 1 lần trong cùng một khoảng thời gian nhưng phải viết đúng. Muốn vậy GV cần phải lệnh từng bước: VD:  Viết 1 chữ ghi âm m vào bên trái bảng con. Sau khi kiểm tra và hướng dẫn những chỗ sai, đa số HS đã xong Gv mới lệnh tiếp: Viết thêm một chữ ghi âm m. Lúc này GV có thể dành thời gian để hướng dẫn HSY viết đúng. Như vậy có em có thể viết 2, 3 chữ có em chỉ viết 1 chữ nhưng đều phải viết được.
5. Linh hoạt, mềm dẻo trong chỉ đạo.
Mặc dầu CGD đòi hỏi sự nghiêm ngặt trong qui trình dạy học nhưng với chỉ đạo thực hiện, để đạt được yêu cầu về lâu dài, việc thực hiện cần nhất quán trong mục tiêu nhưng phải mềm dẻo linh hoạt trong chỉ đạo. Bởi giữa lí thuyết và thực hành luôn tồn tại những vấn đề mà nếu quá cứng nhắc thì sẽ mang lại kết quả không tốt. Trong chỉ đạo thực hiện CGD cũng vậy. Có những vấn đề là bất di bất dịch nhưng cũng có những vấn đề buộc phải linh hoạt để đảm bảo thực hiện mục tiêu. VD: Mỗi bài học trong chương trình  được TK 4 việc và thực hiện trong 2 tiết. Tuy nhiên, muốn chuyển sang việc 2 HS phải có được sản phẩm của việc 1. Vậy nếu hết thời gian mà HS chưa hoàn thành sản phẩm của việc1 thì buộc phải linh động mềm dẻo về mặt thời gian để HS có thời gian hoàn thành sau đó mới chuyển sang việc 2. Vấn đề này có thể khắc phục và điều chỉnh dần khi GV và HS đã quen việc.
6. Tổ chức giao ban, trao đổi, rút kinh nghiệm kịp thời trước, trong và sau mỗi mẫu.
Các bài dạy trong cùng một mẫu có qui trình và cấu trúc với các thao tác cơ bản giống nhau. Do vậy trước mỗi mẫu cần có giao ban để trao đổi về qui trình và PP dạy mẫu đó, thống nhất về các nội dung chỉ đạo phù hợp với tình hình đơn vị về cả thời lượng, thời gian cho mỗi bài. Những lưu ý cho từng bài. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc vẫn nên tổ chức giao ban để chia sẻ, trao đổi và rút kinh nghiệm. Cần cùng nhau phân tích để hiểu vì sao cần phải làm như thế, nếu làm lệch đi thì ảnh hưởng như thế nào? Chỗ nào cần điều chỉnh, chỗ nào cần nhấn mạnh..
VD: Khi dạy mẫu Âm GV bắt đầu với bài lập mẫu Ba. HS không chỉ học 2 âm a,b mà còn từ đó học cách nhận biết nguyên âm, phụ âm. Tuy nhiên các bài dùng mẫu các thao tác nó không hoàn toàn giống với bài lập mẫu, thiết kế ghi cụ thể nhưng Gv cần đủ hiểu biết và đủ tinh tế để nhận ra qúa trình tìm tiếng mới cho mỗi bài một cách linh hoạt. Khi dạy các phụ âm thì tìm tiếng mới phải là thay các nguyên âm đã học. Nếu là học nguyên âm thì phần tìm tiếng mới Gv phải lệnh cho HS: Thay âm đầu bằng các phụ âm đã học…nếu không hiểu thiết kế mà chỉ máy móc làm theo thì thật sự là rất khó để nhớ.
7. Cần chuẩn bị tốt về CSVC và đồ dùng dạy học cần thiết cho học TV1 CGD.
Dạy học TV1 CGD không cần quá nhiều TB và ĐDDH. Tuy nhiên những thứ cần thì không nên để thiếu.
Thứ nhất: Bảng lớp đủ rộng, có dòng kẻ li để thuận tiện cho Gv khi viết bảng đồng thời đảm bảo độ chính xác cần thiết.
Thứ hai: Bộ chữ cái ghi âm rời cho GV và cho HS. Bộ chữ rời cần theo quan điểm CGD. VD: các chữ ghi âm ng, ngh, gh, th… chỉ là một chữ, mỗi chữ phải thể hiện trên một thẻ.

Ngoài ra một số đồ dùng khác GV và HS có thể tự kiếm hoặc làm thêm.

 (Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hoa)
Nguyễn Trang Sưu tầm